Lục độ là pháp môn làm giảm trừ và triệt tiêu khái niệm phân biệt, chấp trước “Nhân, ngã, bĩ, thử”.
Lục Độ gồm: Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Bát nhã.
1. Bố thí
Bố thí là đem của mình cho người.
Gồm 3 phương thức sau:
- Tài thí : tức là đem tiền bạc, của cải, vật thực của mình ra cho. Tài thí gồm:
- Nội tài : là những vật chí thân quý báu nhất của mình. Ví như thân mạng, khi cần thiết vẫn có thể xã thân mình để cứu giúp người.
- Ngoại tài : là của cải, như những vật thường dùng trong đời sống của mình (nhà cửa, ruộng vườn, xe cộ, tư trang, tiền bạc…)
- Pháp thí : là đem lời hay, lẽ phải, những chân lý đúng đắn, cái hiểu cái biết của mình để chỉ bày, khuyên bảo người khác.
- Vô úy thí : là đem đến sự bình tĩnh, an vui cho mọi người và mọi vật. Ví như ta phải sáng suốt nhận biết nguyên nhân dẫn đến sự bất an của người khác, từ đó chọn được phương thức thích hợp để giúp đỡ họ thoát ra khỏi sự bất an, sợ sệt đó.
Cần phải nhận rõ thế nào là bố thí chấp tướng và bố thí không chấp tướng:
- Bố thí chấp tướng : là bố thí với một dụng tâm không trong sạch, tự tư tự lợi, phân biệt kẻ nhận người cho.
- Bố thí không chấp tướng : là bố thí Ba la mật : với tâm trong sạch, tâm từ bi bình đẳng, tâm không phân biệt kẻ nhận và người cho, không tự cao, tự đại. Bố thí với một tâm địa như vậy sẽ được phước trí vô lậu thanh tịnh, mới đúng nghĩa là Bố thí Ba la mật.
Công năng của hạnh Bố thí Ba la mật:
- Diệt lòng tham lam ích kỷ
- Đem lại ấm no
- Phát triển chánh trí vì tu hạnh Pháp thí.
- Đem lại sự bình tĩnh vì tu hạnh Vô úy thí.
2. Trì giới
Trì giới là một hạnh tu để đi đến bờ giác ngộ bằng cách giữ gìn nghiêm chỉnh và trọn vẹn giới luật mà đức Phật đặt ra, tự thân thọ lãnh.
Thành phần của giới luật có thể chia ra làm 3:
- Giới tại gia : là các giới dành cho những cư sĩ từ Ngũ giới đến Thập thiện giới, Bồ Tát giới tại gia hoặc Bát quan trai giới.
- Giới xuất gia : là giới dành riêng cho hàng xuất gia gồm có 5 chúng:
- Sa di và Sa di ni giữ 10 giới
- Thức xoa ma ni phải giữ 6 điều giới và tập 296 hạnh giới.
- Tỳ kheo giữ 250 giới.
- Tỳ kheo ni giữ 348 giới.
- Giới Đạo và Tục thông hành : là giới Bồ Tát mà Phật tử tại gia và xuất gia trong hàng Đại thừa phải thọ trì sau khi đã phát tâm Bồ đề tu Bồ Tát hạnh. Đây là những giới mà người tu hạnh trì giới Ba la mật phải giữ gìn cho đúng, còn gọi là Tam tu tình giới :
- Nhiếp luật nghi giới (Bất tác chư ác) : là 6 giới trọng và 28 giới khinh (của Bồ tát tại gia) để giữ gìn và ngăn ngừa những tội lỗi về thân, khẩu, ý.
- Nhiếp thiện pháp giới (Phụng hành chúng thiện): là quyết tâm thực hành những việc thiện có lợi cho mình và cho người như 10 điều thiện và 4 nhiếp pháp.
- Nhiêu ích hữu tình giới (Hóa độ chúng sanh) : làm các điều lợi ích cho tất cả chúng sinh bằng cách quyết tâm tu hạnh từ, bi, hỷ, xả.
Cũng như hạnh Bố thí, Trì giới cũng có 2 loại :
- Trì giới chấp tướng : là trì giới với hình thức bên ngoài nhưng bên trong thì nhiễm ô (vì hiếu thắng, cầu danh, khinh khi người phạm giới, bị ép buộc, miễn cưỡng), thiếu thành tâm và tự đánh lừa mình.
- Trì giới không chấp tướng : là thuận theo tự tánh, không nhiễm trước mà làm điều lợi ích cho tất cả chúng sanh, còn nhìn nhận trì giới là bổn phận luôn luôn nhiếp tâm cho thuần thục để đến khi không biết rằng mình có trì giới. Đây là tính chất trì giới Ba la mật : không chấp có sự tướng.
Công năng của hạnh Trì giới Ba La Mật:
- Ba nghiệp thanh tịnh : không sanh các tà niệm.
- Các thiện công đức phát sanh.
- Nêu cao giá trị : không phạm các điều xấu xa, thô bỉ.
- Người và vật kính yêu : không làm thương tổn đến mọi người, mọi vật.
3. Nhẫn nhục
Là chịu đựng nhẫn nhịn đến chỗ cùng tột cho đến khi “tâm ý” cũng không ngấm ngầm nỗi dậy phản đối, đứng trước mọi nghịch cảnh lòng vẫn lắng đọng như không. Nhẫn nhục là phương pháp đối trị với tâm sân hận của con người.
Nhẫn nhục có 3 thành phần:
- Thân nhẫn : đối với nghịch cảnh của thời tiết, của hoàn cảnh, của bệnh tật, của đối xử hành hạ về thân xác.
- Khẩu nhẫn : Thân đã chịu nhẫn không chống lại mà miệng cũng không rên la, mắng chưỡi, phàn nàn, nguyền rủa.
- Ý nhẫn : Không căn hờn, oán giận, không nỗi lên ý nghĩa phản đối, không có tư tưởng trả thù.
Ngoài ra trong 3 thành phần nhẫn này còn có các tên gọi để chỉ danh những hành động cụ thể như :
- Thuận sanh nhẫn : Không kiêu căng tự đắc trước sự tán than, cung kính.
- Nghịch sanh nhẫn : Không bực tức thù ghét trước sự chưởi mắng, đánh đập.
- Nội pháp nhẫn : Bị phiền não, tham sân áp bức nhưng tự tâm vẫn thanh tịnh sáng suốt không bị nhiễm ô.
- Ngoại pháp nhẫn : Bị những cảnh đói rét khiến thân thể phải chịu đựng nhưng vẫn không than phiền hay có thái độ phẩn uất.
Và 2 loại nhẫn nhục :
- Nhẫn nhục có chấp tướng : là nhẫn nhục vì sợ quyền thế, vì đang nằm trong một hoàn cảnh bất lợi, nhẫn nhục vì cầu danh và lợi quyền, vì khinh bỉ đối thủ. Tất có hình thức nhẫn nhục này vì còn do dục vọng, tham sân si mạn, nghi thúc đẩy.
- Nhẫn nhục không chấp tướng : là do ý muốn diệt trừ lòng sân hận, kiêu mạn, tật đố, tham lam, tự biết quay về quán tưởng khi sự việc xảy đến. Đây là các hình thức nhẫn nhục nhằm mục đích trau dồi “Tứ vô lượng tâm”, nhẫn từ ngoài thân đến tâm.
Công năng của Nhẫn nhục :
- Không làm những việc vô ý thức
- Bình tĩnh trước mọi hoàn cảnh, biến cố xảy ra trong cuộc sống.
- Không trụy lạc theo năm dục.
4. Tinh tấn
Tinh tấn là không ô nhiễm, không thối xuất, chuyên tâm nhất trí tiến hướng cầu đạo giải thoát và giác ngộ. Ở đây tinh tấn hiểu theo nghĩa đạo pháp là thực hiện “Tứ chánh cần”.
Thành phần của Tứ chánh cần gồm có 4 điều:
- Tinh tấn ngăn các điều ác đừng sanh.
- Tinh tấn diệt cho nhanh các điều ác đã phát sanh.
- Tinh tấn làm cho các điều lành phát sanh.
- Tinh tấn làm cho các điều lành đã phát sanh tăng trưởng.
Tinh tấn có 2 loại:
- Tinh tấn có chấp tướng : là thực hiện sự siêng năng cần mẫn bên ngoài với một dụng tâm không trong sạch như vì danh, vì lợi, vì kiêu căng . . .
- Tinh tấn không chấp tướng : là thực hiện với một tâm nguyện sám hối tội lỗi đã làm để quyết tâm sữa chữa để giúp mình và giúp người thoát khỏi cảnh sanh tử luân hồi.
Công năng của hạnh Tinh tấn:
- Dũng mãnh hăng hái : diệt trừ được tánh rụt rè, biếng nhác.
- Không thối xuất : Không chán nản lùi bước trước những hoàn cảnh chướng duyên.
- Tiến gần đến đạo giải thoát .
5. Thiền định
Tập trung tâm ý vào một đối tượng duy nhất, không cho tâm tán loạn, để tâm thể được vắng lặng và tâm dụng được mạnh mẽ; hầu quan sát và suy nghiệm chân lý. Thiền định là danh từ ghép của 2 từ Thiền (tiếng Phạn gọi là Thiền na) và từ Định (tiếng Phạn gọi là Tam Muội)
Các loại thiền định :
- Quán hởi thở : Đây là pháp ngồi thiền cho hàng sơ cơ, tức là tập theo dõi hơi thở vào hơi thở ra, để cho tâm tập trung vào hơi thở, không nghĩ bông lung với mục đích đối trị sự tán loạn của tâm.
- Quán hạnh từ bi : Dùng tâm từ bi, quán sát những nổi khổ của chúng sanh, mục đích để đối trị với lòng sân hận.
- Quán sự không thanh tịnh : Quán sát con người đều do ngũ uẩn tạo thành với sanh, già, bệnh, tư, để không còn tham đắm vào sắc dục.
- Quán về pháp nhân duyên : Quán sát vạn pháp đều giả hợp, do nhân duyên mà có, khi hết nhân duyên thì tan rã, để đối trị với lòng tham mê vật chất, tiền tài, danh vọng, của cải.
- Quán theo niệm Phật : Quán công đức, tướng hảo của chư Phật để dứt bỏ phiền não.
Cũng là Ngũ đình tâm quán, thay vì quán niệm Phật thì Quán về 18 giới đều không có “ngã, pháp” để đối trị ngã chấp.
Công năng của pháp môn Thiền định:
- Loại trừ bớt lòng tham dục : nhờ quán thanh tịnh.
- Trừ nóng giận : nhờ quán từ bi
- Phá si mê : nhờ quán nhân duyên
- Ngăn các phiền não : nhờ quán niệm Phật
- Diệt loạn tâm : nhờ quán hơi thở.
- Khai phát được trí tuệ vô lượng và an trú trong cảnh giới của chư Phật
6. Bát nhã
Còn gọi là Trí huệ Ba La Mật, là thể tánh sáng suốt có khả năng soi sáng sự vật một cách thấu đáo, tinh tường đến nơi đến chốn không thể sai lầm.
Trí huệ là danh từ ghép của 2 từ “Trí” (phiên âm từ chữ Phạn là Phãna, có nghĩa là quyết đoán) và từ “Huệ” (phiên âm chữ Phạn là Bát nhã, có nghĩa là giãn trạch). Theo Phật học Trung hoa định nghĩa thì : Trí là biết Tục đế và Huệ là biết Chơn đế hay có thể nói : Trí là thể tánh sáng suốt trong sạch và Huệ là diệu dụng xét soi tự tại.
Về cơ cấu thì trí huệ có 2 loại:
- Căn bản trí : là giác tính minh diệu mà mỗi chúng sanh đã có sẵn, nhưng bị phiền não nhiễm ô che lấp nên chưa phát chiếu ra được.
- Hậu đắc trí : là trí huệ có được nhờ công phu tu tập như trì giới, thiền định. Theo Duy thức học sau khi đạt đến địa vị giác ngộ, nghĩa là có được “hậu đắc trí” thì 8 thức được chuyển thành 4 trí:
- Đại viên cảnh trí : Thức thứ 8 (A-lại-da) có tác dụng chấp trì sanh mạng và chủng tử, khi đạt đến địa vị vô lậu.
- Bình đẵng tánh trí : Thức thứ 7 (Mạt-na) có tác dụng là chấp ngã
- Diệu quan sát trí : Thức thứ 6 (ý thức) có tác dụng phân biệt.
- Thành sở tác trí : Năm thức còn lại (Nhãn, nhĩ, tỷ, thiêt, thân).
Tuy vậy để đạt được Trí huệ, đức Phật đã chế ra nhiều pháp môn tu, trong đó pháp môn Văn-Tư-Tu là được nhắc nhở và thực hành nhiều nhất với các tên gọi:
- Văn huệ : là do tai nghe âm thanh, mắt thấy văn tự mà hiểu được nghĩa lý.
- Tư huệ : là do trí suy nghĩ, tìm tòi để rõ được nghĩa lý, hiểu được sự thật.
- Tu huệ : là do tu hành thể nghiệm và thể nhập chân lý mà giác ngộ chứng được sự thật.
Công năng của trí huệ
- Diệt trừ phiền não : Phiền não là do mê lầm phát sinh, khi trí huệ đã có thì mê lầm phải mất và phiền não đoạn tận. Như ánh sáng đẩy lùi bóng tối.
- Chiếu sáng sự vật : Sự vật bị vô minh che khuất, nay trí hệ phát chiếu thì thực tánh của sự vật được phơi bày như thật. Như ánh sáng mặt trời lên thì màn sương tan biến.
- Thể nhập chân lý : Khi bị vô minh phủ lấp, ngăn che thì tưởng chừng vạn pháp như sai biệt. Nay nhờ trí huệ hiển lộ thấy rõ được tâm, cảnh đều không nên thể nhập được chân lý, giác ngộ hoàn toàn.
TU TẬP:
Muốn đạt được quả vị giải thoát, điều tiên quyết ngay từ bây giờ, tự mỗi cá nhân chúng ta phải phát triển tín tâm trên con đường bước vào tu tập 6 hạnh độ bằng cách :
1. Phát Bồ đề tâm :
Tức là thực hiện bốn lời thề nguyện rộng lớn :
+ Chúng sanh không số lượng thề nguyện đều độ khắp.
+ Phiền não không cùng tận thề nguyện đều dứt sạch.
+ Pháp môn không kể xiết thệ nguyện đều tu học.
+ Phật đạo không gì hơn thệ nguyện được viên thành.
2. Xem thường tài sản và tính mạng :
Phải mở rộng cõi lòng vì sự lợi lạc chúng sanh làm trọng, phải vui lòng đảm nhận mà không một lời oán than trách móc hay tiếc nuối.
3. Xem chúng sanh đau khổ như chính mình đau khổ :
Phải nhận rõ chúng sanh và mình đều cùng chung một bản thể vô tận tuy có khác hình dáng, tư tưởng, vì giọt nước tuy nhỏ nhưng thể chất vẫn đồng với thể chất của cả đại dương. Phải ý thức được sự sống của mọi loài cũng tương quan mật thiết như thế, để có quan niệm : chúng sanh đau khổ tức mình đau khổ, cứu chúng sanh tức là tự cứu chính mình.
Bài viết khác
- [Cảm Ứng] Thân Cận Thiện HữuTrong ngạn ngữ thường nói “gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”. Câu này ý nói phàm phu chúng ta nhất định bị ảnh hưởng của hoàn cảnh, bị ảnh hưởng bởi thế giới bên ngoài. Chúng ta làm không được “cảnh tùy tâm chuyển”. Thực tế mà nói, chúng ta là “tâm theo cảnh mà chuyển”. Vì vậy, hoàn cảnh đối với chúng ta rất quan trọng.
- [Cảm Ứng] Có cảm tất có ứng. Nhổ một sợi tóc làm động toàn thân.Trên thân thể chúng ta, chúng ta nói là “nhổ một sợi tóc, làm động toàn thân”. Một sợi tóc bé nhỏ không đáng kể, nếu như chúng ta kéo căng nó thì toàn thân liền cảm thấy khó chịu. Bạn động đến một sợi tóc, đây là cảm; toàn thân khó chịu, đó là ứng.
- Viên Liễu Phàm Gặp Vân Cốc Thiền SưViên Liễu Phàm đã sửa đổi thành công vận mạng của mình sau cuộc gặp gỡ với Vân Cốc thiền sư. Mạng là tự mình tạo, đương nhiên tự mình có thể sửa. Sửa như thế nào vậy?
- Nhìn Thấu – Buông Bỏ – Bố Thí | Pháp Sư Tịnh KhôngHọ hiểu những phương pháp lý luận để kinh doanh nhưng cả đời không phát được tài, đó là do nguyên nhân gì?
- Các kỹ thuật điều trị trong Diện Chẩn
Trong diện chẩn, có nhiều kỹ thuật điều trị. Chúng ta có thể tham khảo để lựa chọn kỹ thuật phù hợp cho việc điều trị.



Trả lời